Lịch sử Văn hóa

Đất và người Khánh Hòa

Trước năm 1653, lãnh thổ Đại Việt về phương Nam đến đất Phú Yên tiếp giáp với Chiêm Thành và núi Thạch Bi – núi Đại Lãnh (vùng giáp ranh giữa Phú Yên – Khánh Hòa ngày nay) được coi là đường ranh giới tự nhiên giữa hai nước. Năm 1653 đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) quan Chiêm Thành vượt núi Thạch Bi quấy phá đất Phú Yên nên Chúa Nguyễn quyết định vượt núi Thạch Bi phạt Chiêm, thu phục vùng đất từ nam núi Thạch Bi đến tận sông Phan Rang, lập ra phủ Thái Khang (với 2 huyện là Quảng Phúc và Tân Định) và phủ Diên Ninh (với 3 huyện là Phúc Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu).

Tháp Bà Ponarga – Di tích của người Chăm còn lại tới ngày nay

Chúa Nguyễn đặt tên cho vùng bờ cõi mới thu nạp Thái Khang, Diên Ninh, Quảng Phúc, Phúc Điền, Hoa Châu… với niềm mong mỏi và khát vọng về một miền đất an vui, thái bình, may mắn ấm no cho muôn dân, thịnh vượng sẽ mãi lâu dài trên một vùng đất tươi đẹp như hoa. Trải qua các đời Chúa, vua triều Nguyễn, vùng đất này trải qua nhiều lần đổi tên từ dinh Thái Khang đến dinh Bình Hòa (1803), trấn Bình Hòa (1808), nhưng tựu chung đều mang ý nghĩa của miền đất bình an, người dân hiền hòa. Thiên nhiên nơi đây đã tạo nên một mảnh đất tươi đẹp với những con người hiền hòa, thuần hậu như nhà viết sử triều Nguyễn đã nhận định trong bộ Đại Nam Nhất Thống chí: “Phong tục thuần hậu, tập quán quê mùa. Kẻ sĩ chất phác mà trầm tĩnh, nhân dân kiệm mà lành…”.

Thành cổ Diên Khánh

Năm 1832, vua Minh Mạng đã có một sự cải tổ lớn về đơn vị hành chánh trong toàn quốc. Đại Nam Thực Lục có ghi: “Nhâm Thìn, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) tháng 10, ngày mồng 1: Bắt đầu chia hạt, đặt quan từ Quảng Nam trở vào Nam… Tỉnh Khánh Hòa trước là Bình Hòa, thống trị phủ Diên Khánh, Ninh Hòa và 4 huyện Phúc Điền, Vĩnh Xương, Quảng Phúc, Tân Định. Trước 2 huyện Hoa Châu và Phúc Điền, nay gộp lại thành huyện Phúc Điền”. Tên dinh Bình Hòa đã được đổi lại là tỉnh Khánh Hòa, cách 179 năm từ lúc đầu mở đất và sau 29 năm mang tên Bình Hòa. Chữ BÌNH đổi thành chữ KHÁNH nghĩa là mừng, chúc mừng cho vùng đất luôn HÒA này. Chữ KHÁNH trong Diên Khánh cũng là mong ước niềm vui được kéo dài, được bình yên, thuận hòa như tên huyện Ninh Hòa mà vua triều Nguyễn đã đặt.

Biển Nha Trang ngày nay

Tỉnh Khánh Hòa từ thời Minh Mạng (1820-1840) đến thời vua Khải Định (1916-1925) ranh giới hành chánh kéo dài về phía Nam đến phần đất của tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay. Đến năm 1922, sau khi thành lập tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa có diện tích như ngày nay.
Ngày 29 tháng 10 năm 1975, hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên sáp nhập vào nhau, gọi là tỉnh Phú Khánh, lấy hai tên đầu của hai tỉnh mà đặt cho tỉnh mới. Phú là giàu có, Yên là an ổn, bình an. Hai tên tỉnh ghép lại cũng đồng một ý nghĩa. Đến ngày 30 tháng 6 năm 1989, hai tỉnh lại tách ra, thành tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên như cũ. Tỉnh Khánh Hòa ngày nay có diện tích 5.217, 6 cây số vuông, với 2 thành phố là Nha Trang (đô thị loại 1) và Cam Ranh, 1 thị xã Ninh Hòa và 6 huyện: Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Trường Sa.

Biển Đại Lãnh – Danh thắng được vua Minh Mạng cho khắc lên Tuyên Đỉnh -1 trong 9 đỉnh đồng đặt ở sân Thế Miếu – Kinh thành Huế

Nói về sự an bình của Khánh Hòa, như Quách Tấn, trong Xứ Trầm Hương đã nhận định: “Gần 20 năm trời, dinh Bình Khang dưới quyền cai trị nhà Tây Sơn, được yên ổn. Nhân dân an cư lập nghiệp” và “từ đời Gia Long (1802-1820) đến cuối đời Tự Đức (1847-1883), ở Khánh Hòa không xảy ra việc gì quan trọng. Nhân dân được yên ổn làm ăn”. Chỉ khi Nguyễn Ánh tranh bá đồ vương với nhà Tây Sơn và sau này khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thì mới xảy ra những cuộc giao chiến, cuộc sống không an bình như cũ. Trong thời chiến tranh khi đất nước hai miền còn chia cắt thì Khánh Hòa cũng không phải là nơi chiến trường lớn nên sự tàn phá của chiến tranh không tác hại nhiều.

Chùa Long Sơn Nha Trang

Còn nói đến cái Hòa của Khánh Hòa, không những Đất hòa, Người hòa mà Khí hậu cũng ôn hòa với hai mùa mưa nắng. Nhưng mưa nắng rất “điều độ” (chữ dùng của Quách Tấn), không nắng nóng khô hạn như ở một số tỉnh miền Trung, không lạnh cắt da, thấu xương như các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Còn mưa thì có thể tháng nào cũng có mưa, nhưng mưa không kéo dài, ào ào rồi dứt, không dầm đề như mưa Huế. Về bão lụt thì Khánh Hòa ít khi tiếp nhận, có người nói có Bà Thiên Y “đỡ” cho dân lành, sự thiệt hại không nhiều như một số tỉnh khác. Khánh Hòa lại nổi tiếng nhiều cọp như người xưa đã nói “cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận ”, nhưng theo Quách Tấn, cọp Khánh Hòa “rất nhát gan, hễ thấy người thì lo tránh. Cho nên người lịch lãm thường nói: “hiền như cọp Khánh Hòa”.
Quách Tấn còn kể: “Thời Pháp thuộc, đời Duy Tân (1907-1916), nhà chí sĩ Trần Cao Vân vào Khánh Hòa vận động cách mạng. Không có kết quả, than cùng một ông bạn:
Nhân sĩ Khánh Hòa hiền lành quá !
Ông bạn cười đáp:
Cọp còn thế huống chi người !
(…) Cọp hiền là do thủy thổ. Cũng như người, cọp “dĩ hòa vi quý”. Bởi vậy, tuy xứ nhiều cọp, cố nhân vẫn xem mặt đặt tên: Khánh Hòa”.
 Theo Lịch sử – Văn hóa Khánh Hòa, những ghi chép

Leave a Comment